Ngày
2. 9. 1945, Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập. Tuy nhiên thực dân pháp vẩn
nuôi tham vọng chiếm lại miền Nam. Ngay trong “lời kêu gọi quốc dân” ngày 5. 9.
1945, Hồ Chí Minh đã nói rõ âm mưu đen tối đó với nhân dân Việt Nam: Quân Pháp
kéo vào Việt Nam chỉ nhằm mục đích đưa dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần
nữa mà thôi. Và Người kêu gọi toàn dân sẳn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu.
Ở miền Nam quân Pháp núp bóng quân Anh đánh chiếm một số nơi. Cuộc kháng chiến
đã khởi phát ở Nam Bộ từ ngày 23. 9. 1945. Nhân dân Việt Nam đang cần có hoà
bình để xây dựng đất nước và cũng cố lực lượng về mọi mặt nên đã nhân nhượng
trước những hành động gây chiến của phía Pháp ở Nam Bộ, Trung Bộ và Bắc Bộ. Việt
Nam đã ký với Pháp Hiệp định Sơ Bộ (6.3.1946) và Tạm Ước ( 14. 9. 1946). Nhưng
Việt Nam càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, ráo riết đánh chiếm nhiều
nơi, phá hoại cuộc đàm phán ở Đà Lạc, ở Fon-tainebieau. Đầu tháng 11. 1946, Hồ
Chí Minh ra chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ”, nêu rõ phương hướng cơ bản và
nhiệm vụ chủ yếu của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp mà dân tộc Việt Nam sẽ
phải thực hiện. Ngày 18. 12. 1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư đòi tước vũ
khí lực lượng tự vệ Thủ đô, khả năng hoà hoãn với thực dân đã chấm dứt.
Đêm
ngày 19. 2. 1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến”.
Lời
kêu gọi viết: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải
nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng,thực dân pháp càng lấn tới, vì
chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ
nhất định không chịu mất nước, nhất định không chiu làm nô lệ. Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ,
không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hể là người Việt Nam thì phải đứng lên
đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm,
không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực
dân Pháp cứu nước… Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng,
để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết
hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta...”
“Lời
Kêu Gọi Toàn Quốc Kháng Chiến”. Động viên toàn thể đồng báo đứng lênđánhđuổi thực
dân cứu nước. Lời kêu gọi đã nói lên ý chí của dân tộc Việt Nam: “Không! chúng
ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định khôngchịu
làm nô lệ”. Phương châm chiến lược của cuộc kháng chiến được HồChí Minh xác định
ngay từ đầu: Cuộc kháng chiến phải lâu dài, gian khổ và phải dựa vào sức mình
là chính. Đường lối tiến hành kháng chiến là huy động sức mạnh của toàn dân, Hồ
Chí Minh nêu rõ “Không có quân đội nào, không có khí giới nào có thể đánh ngã
được đinh thần hy sinh của toàn dân tộc ta”. “Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc
thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch có hung tàn, xảo quyệt đến
mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”. Để thực hiện đường
lối đó, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người
trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hể là người Việt Nam thì phải đứng
lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng dùng súng, ai có gươm
dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống
thực dân Pháp cứu nước”.
Từ đó, Hồ Chí Minh nêu ra khẩu hiệu: “Mỗi quốc
dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài”. Đường lối đúng đắn đó đã tạo
nên một thế trận cả nước đánh giặt. Quân Pháp đi đến đâu cũng bị khấy rối, bị
đánh phá, bị tiêu diệt. Trên cơ sở toàn dân kháng chiến, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
Sản Đông Dương chủ trương vừa phát triển mạnh mẽ lực lượng dân quân du kích, vừa
tích cực xây dựng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Về dân quân du kích, Hồ
Chí Minh chỉ rõ: phải lấy dân quân du kích làm nền tảng, đồng thời phải kiện
toàn các đội du kích thoát ly sản xuất. Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến việc
tổ chức huấn luyện và hướng dẫn chiến thuật cho lực lượng này. Đối với bộ đội
chủ lực và bộ đội địa phương, Hồ Chí Minh chú trọng đến việc xây dựng quân đội
đúng với bản chất giai cấp, cách mạng của nó, một quân đội thật sự của nhân
dân. Nếu nhiệm vụ của lực lượng du kích “phải luôn luôn giữ quyền chủ động, tìm
địch mà đánh, phải luôn luôn khấy rối phá hoại địch, phải cộng những thắng lợi
nhỏ thành thắng lợi to..” thì nhiệm vụ của bộ đội chủ lực được người xác định
là “tìm cơ hội đánh những trận to để tiêu diệt chủ lực của địch”…
Trên
tinh thần chung Lời kêu gọivỏn vẹn chỉ có 198 từ, nhưng đã vạch trần dã
tâm xâm lược của thực dân Pháp, nêu lên ý chí sắt đá quyết kháng chiến đến cùng
của dân tộc ta. Đồng thời Lời kêu gọi
nêu lên những nét cơ bản về đường lối của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện,
lâu dài, dựa vào sức mình là chính và khẳng định thắng lợi cuối cùng nhất định
thuộc về dân tộc ta.Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là một văn kiện lịch
sử vô giá, chứa đựng nhiều giá trị văn hoá to lớn.Tác phẩm mà sau này được công
nhận là một trong 5 bảo vật Quốc gia của Bác Hồ, bên cạnh “Đường kách mệnh”,
“Nhật ký trong tù”, “ Lời kiêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” và “Di chúc”.
( Nguồn: theo TỪ ĐIỂN HỒ CHÍ MINH
sơ giản, Nhà Xuất Bản Trẻ 1990)
0 Nhận xét