Sau một thời gian ở Cao Bằng cùng với
Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ngày
13. 8. 1942. Nguyễn Aí Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh, lên đường đi Trung Quốc với
danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh và Phân bộ quốc tế chống
xâm lược của Việt Nam để tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Sau nửa tháng trời đi bộ,
vừa tới Túc Vinh ( một thị trấn thuộc huyện Tỉnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc) Hồ
Chí Minh bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giữ và bị giam cầm
13 tháng, bị đối xử tàn tệ và sống khổ cực trong gần 30 nhà tù của 13 huyện thuộc
Tỉnh Quảng Tây.
Trong thời gian này Người đã viết tập
thơ Nhật Ký Trong Tù. Tập thơ gồm 133 bài. Phần lớn là tứ tuyệt, được
ghi vào cuốn sổ tay, bìa màu xanh, trang đầu ghi bốn chử Ngục Trung Nhật Ký có
vẽ hai cách tay với bàn tay nắm chặt, bị xích kèm theo bốn câu thơ:
“Thân thể tại ngục trung,
Tinh thần tại ngục ngoại;
Dục thành đại sự nghiệp,
Tinh thần cánh yếu đại”.
(Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao).
Nhật ký trong tù trước hết là một tập nhật ký, ghi lại
những nét sinh hoạt hàng ngày của tù nhân, tình cảm và tâm tư của họ, những cảnh,
những việc mà Hồ Chí Minh gặp trên đường chuyễn lao, suy nghĩ và cảm xúc của
Người trong những ngày bị giam cầm – Nhật ký trong tù thể hiện một tấm
lòng nhân ái sâu xa, là một tập nhật ký riêng tư nhưng Hồ Chí Minh ít nói đến
những nổi đau khổ ghê gớm mà bản thân đã phải chịu đựng, nếu có nói đến thì thường
bằng giọng vui đùa, trái lại đã dành khá nhiều bài nói về niềm vui, nổi khổ của
những người chung quanh. Đó là tình thương bao la và sự quên mình thật sự. Sự cảm
thông, niềm xót thương vô hạn đới với những người bị đoạ đày khiến Hồ Chí Minh
viết nên nhiều bài thơ xúc động chứa chang tình người (Người bạn tù cờ bạc vừa
chết; Cháu bé ở nhà lao Tân Dương; Vợ người bạn tù đến thăm chồng; Người bạn tù
thổi sáo; Chiều tối; Phu đường -). Ngay cả đối vớitù nhân mà phần lớn thuộc
lớp cặn bã của xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh cũng nhìn họ
một cách bao dung, thật sự chan hoà, yêu thương và trân trọng, coi họ là “cùng
hội cùng thuyền”, gọi họ là “bạn hữu”, là “tri âm”, “khách quý” – và tin tưởng ở
bản chất vốn lương thiện của họ. Nhưng dù vậy, tình cảm nhân đạo đó vẫn có nội
dung giai cấp cụ thể. Hồ Chí Minh dành nhiều tình thương cho những “tù nghèo”,
“khổ đau đói rét” và phân biệt họ với bọn “tù củng ngày ngày no rượu thịt”. Hồ
Chí Minh chia sẻ vui buồn với người nông dân đang lao động trên đồng ruộng, người
phu đường “dãi nắng dầm mưa” vất vả, cô gái nghèo xay ngô xóm núi… Nhật ký
trong tù cũng chăm biến sắc sảo đả kích thăm thuý chế độ nhà tù Tưởng Giới
Thạch, hình ảnh thu nhỏ của xã hội Trung Quốc thối nát lúc đó ( Cái cùm ở
Lai Tân; Cờ bạc)… Nhật ký trong tù cho thấy nổi niềm thương nhớ đất
nước, niềm khao khác tự do để trở về chiến đấu luôn ám ảnh, day dức Hồ Chí
Minh. Lúc thức và lúc ngủ, khi tỉnh cũng như khi mộng, khi đi đứng, ngắm cảnh,
khi đau ốm, lúc nghỉ ngơi, dường như không lúc nào Người nguôi tấm lòng nhớ nước
( Đêm thu; Ốm nặng…). Người đau nổi đau của “đất Việt cảnh lầm than” và
“hoà lệ thành thơ” tả nổi lòng nhớ nước. Nhật ký trong tù thể hiện tinh
thần chiến thắng, chủ nghĩa lạc quan cách mạng qua tiếng cười hồn nhiên sảng
khoái của Hồ Chí Minh giữa những cảnh ngộ vô vàng khổ cực (Đêm ngủ ở long
tuyền; Giữa đường đáp thuyền đi Ung ninh; Dây trói; Đi Nam Ninh; Trên đường đi…).
Là một người tù nhưng Hồ Chí Minh thực sự là người chiến thắng, thật sự làm chủ
bản thân, làm chủ tư tưởng và tình cảm của mình. Và như vậy, Người thực sự là
người tự do. Nhật ký trong tù thể hiện sáng ngời chất thép cách mạng, mà những
câu trong bài “cảm tưởng đọc”, “Thiên gia thi” sang sảng như một tuyên ngôn:
“Nay ở trong thơ nên có thép.
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”.
Nhật ký trong tù phản ánh trực tiếp một tâm hồn cao đẹp,
đồng thời cũng thể hiện rõ một phong cách thơ độc đáo mà đa dạng, đạt đến sự
hài hoà cao độ vừa rất mực giản dị, hồn nhiên, vừa hàm súc, thâm trầm, vừa có
dáng dấp cổ điển vừa mang tính thần và sắc thái hiện đại, vừa có bút pháp hiện
thực nghiêm ngặt vừa lãng mạng bay bổng vừa sáng ngời chất thép vừa thắm thiết
tình người, chan chứa chất thơ.
Nhật ký trong tù còn là tài sản vô
giá trong di sản văn hoá của dân tộc Việt Nam. Năm 1960, tác phẩm được dịch ra
tiếng Việt,phát hành rộng rãi, được các tầng lớp nhân dân cả nước đoán đọc và
đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Tác phẩm không chỉ được phổ biến sâu rộng ở
trong nước, mà còn được đánh giá cao và giới thiệu bằng nhiều thứ tiếng. Đặc biệt,
Nhật ký trong tù còn là hiện vật một bản, một văn bản gốc, là văn bản
duy nhất có tại Việt Nam. Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ( nay là Bảo Tàng Lịch sử
quốc gia) đã lựa chọn hiện vật gốc cuốn Ngục trung nhật ký ( tức Nhật
ký trong tù ) của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đề nghị công nhận bảo vật quốc
gia. Và ngày 1. 10. 2012. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định công nhận là Bảo vật Quốc
gia cho tác phẩm Ngục trung Nhật ký.
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước lúc đi
xa, Người đã để lại cho chúng ta di sản vô giá, trong đó có tác phẩm Nhật ký
trong tù, ở đóchúng ta được gặp một tâm hồn vĩ đại của một bật đại trí, đại
nhân, đại dũng. Tác phẩm mà sau này được công nhận là một trong 5 bảo vật Quốc
gia của Bác Hồ, bên cạnh “Đường kách mệnh”, “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”,
“ Lời kiêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” và “Di chúc”.
( Nguồn: theo TỪ ĐIỂN HỒ CHÍ MINH sơ
giản, Nhà Xuất Bản Trẻ 1990)
0 Nhận xét