Tuyên
Ngôn Độc Lập. Tại phiên họp đầu tiên của Thường Vụ Trung Ương Đảng (26. 8.
1945). Hồ Chí Minh đề nghị sọn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập để trình bày trước
cuộc mít tin lớn ở Hà Nội khi Chính phủ Lâm Thời ra mắt nhân dân. Từ ngày 28. 8
đến 31. 8. 1945, Hồ Chí Minh giành nhiều thời giờ sọn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập.
Người cho mời một số đồng chí đến trao đổi ý kiến và sau đó bổ sung thêm một số
điểm vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Ngày 2. 9. 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà
Nội) trước nhân dân nhân dịp ra mắt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đọc Bản
Tuyên Ngôn Độc Lập và khẳng định. Thế giới công nhận hai bản tuyên ngôn: tuyên
ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách
mạng Pháp 1789, tức là công nhận “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra
bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền được tự do”.
Song dân tộc Việt Nam hơn 80 năm nay đã bị “thực dân pháp lợi dụng lá cờ tự do,
bình đẳng bác ái đến cướp đất nước và áp bức”. Tiếp theo đó, khi Nhật vào Đông
Dương “thực dân Pháp quỳ rối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật”. “Hành động
xâm lược của Pháp đã trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”; hành động bán nước
Việt Nam cho Nhật càng tàn ác hơn, “dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật.
Từ đó dân ta càng cực khổ nghèo nàn”. Nhưng cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công
khiến cho: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các
xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng lại nước Việt Nam độc lập. Dân
ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng
hoà”. Vì thế, đại diện cho Chính phủ Lâm thời – đại biểu của toàn dân Việt Nam
– Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền
hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể
dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và tài sản
để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
TUYÊN
NGÔNĐỘC LẬP NĂM 1776 CỦA NƯỚC MỸ
Tuyên
ngôn độc lập của nước Mỹ. Là thành quả của cuộc chiến tranh
giải phóng chống chủ nghĩa thực dân Anh (1775 – 1781) của nhân dân Bắc Mỹ. Đại
hội lần thứ II của các xứ thuộc địa Anh họp ở Philadelphia năm 1775 đã cử một Uỷ
ban do T. Jefferson (1743 – 1826) làm Chủ tịch để thảo ra bản nghị quyết tuyên
bố các xứ thuộc địa là những nước tự do và độc lập, tách rời phạm vi quyền lực
của vua nước Anh. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 nước thuộc địa thông
qua ngày 4. 7. 1776 và trở thành Tuyên Ngôn Độc Lậpcủa nước Mỹ. Chân lý trong
Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 của nước Mỹ cũng là chân lý bất hủ của nhân loại: “Tất
cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có
thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc ”. Chân lý ấy không những được Hồ Chí Minh long trọng đề cập
mà còn được Người coi là cơ sở tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập mà Người sọn
thảo để đọc vào ngày 2 - 9 – 1945. Bởi vì chân lý ấy “có ý nghĩa là: tất cả các
dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống,
quyền sung sướng và quyền tự do”.
TUYÊN
NGÔN NHÂN QUYỀN VÀ DÂN QUYỀN
Tuyên
ngôn nhânquyền và dân quyền. Do Hội Nghị Lập Hiến của chính quyền Cách Mạng
Pháp thông qua ngày 26. 8. 1789 sau khi đánh đổ nền quân chủ phong kiến. Bản
Tuyên Ngôn này thừa nhận các quyền tự do dân chủ như tự do thân thể, tự do ngôn
luận, tự do tín ngưỡng… thừa nhận quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật,
quyền chống áp bức. Chính vì vậy mà các xứ thuộc địa, thực dân pháp không dám
công bố bản Tuyên ngôn này, lại càng không áp dụng những quyền tự do được nêu
lên trong bản Tuyên ngôn. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đối với nhân dân bản xứ, nước
Pháp có một nhiệm vụ phải làm tròn là dạy cho dân bản xứ biết giữ bổn phận của
mình” cho các cuộc chiến tranh giữa mẫu quốc với các quốc gia khác, “cung cấp
cho nước mẹ đang lâm chiến hàng vạn tấn hàng hoá, hàng trăm triệu phơ răng
trong các cuộc công trái bắt buộc và cho các cuộc lạc quyên bắt buộc”, “phải
nhường lại hàng chục vạn héc ta ruộng đất tốt nhất của mình”, “phải đóng sưu
đóng thuế” với số lượng ngày càng tăng, “chính những điều này có giá trị “khai
hoá” nhiều hơn và có ích cho sự nghiệp thực dân nhiều hơn là bản Tuyên ngôn
nhân quyền và công dân quyền nhạt nhẽo”. “Thống chế Liautey và bản Tuyên ngôn
nhân quyền đăng trong tạp chí (Thư Tín Quốc Tế số 71, năm 1924”. Trong bản
Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 2. 9. 1945 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Hồ Chí
Minh đề cập đến bản tuyên ngôn này nhằm khẳng định dân tộc Việt Nam cũng như
các dân tộc khác trên thế giới đều được hưởng mọi quyền tự do và bình đẳng mà
thế giới đã công nhận qua bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Pháp.
Bản
Tuyên ngôn độc lập đã kế thừa và nâng cao các giá trị
truyền thống của dân tộc được kết tinh qua hàng ngìn năm lịch sử mà chói sáng
là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần độc lập: là trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam với
khác vọng, hoài bảo lớn lao vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Những giá trị cốt
lõi ấy vẫn là nguồn lực nội sinh, tạo động lực to lớn trong sự nghiệp đổi mới
hôm nay.
Theo
Hồ Chí Minh, bản Tuyên ngôn độc lập là một trang vẻ vang trong lịch sử
Việt Nam. Nó chấm dứt chính thể quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân áp bức.
Nó mở ra một kỷ nguyên mới dân chủ cộng hoà. Với Tuyên ngôn, Hồ Chí Minh trịnh
trọng tuyên bố với quốc dân đồng bào và
Thế giới về sự khai sinh của nhà nước Việt Nam mới, biểu dương lực lượng và ý
chí của toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm giữ vững nền độc lập, tự do của
mình.
Như
vậy, Tuyên ngôn đã đặt hòn đá tảng đầu tiên xây dựng một Nhà nước hợp hiến. Nhờ
đó, Chính phủ lâm thời do cuộc cách mạng của ý Đảng lòng dân nên có được địa vị
hợp pháp và Việt Nam có vinh dự là một trong rất ít quốc gia, sau cách mạng có
được Bản Tuyên ngôn nổi tiếng về quyền của các dân tộc, có giá trị đóng
góp vào sự phát triển nền pháp lý tiến bộ của loài người.
Đối
chiếu với Tuyên ngôn về quyền con người của Liên hợp quốc ra đời sau đó hơn ba
năm (10. 12. 1948), ta thấy tất cả các quyền và tất cả tự do được tuyên bố
trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc vẫn không vượt ra ngoài khuôn khổ những nội
dung cơ bản mà Hồ Chí Minh đả nêu lên. Tư tưởng xuyên suốt trong Tuyên ngôn
độc lập của Hồ Chí Minh là “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Người
đã gắn độc lập – quyền dân tộc thiêng liên với tự do – quyền cơ bản
của con người. Đây không chỉ là những “lẽ phải không ai chối cải được”, mà còn
trở thành một nguyên tắc pháp lý về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng
và quyền tự do của tất cả các dân tộc trên thế giới.
Đặt
Tuyên ngôn độc lập trong bối cảnh quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai mới
thấy hết giá trị to lớn, trường tồn của Tuyên ngôn, cũng chính là trí tuệ
và bản lĩnh Hồ Chí Minh. Sau chiến tranh, nước Mỹ thắng trận, tự cho mình có
quyền lực tối cao mọi nơi trên thế giới. Nước Pháp thuộc phe Đồng minh,rắp tâm
thiết lập lại hệ thống thuộc địa mà Việt Nam là một điểm nhấn. Đặc biệt, các nước
tham gia Hội nghị thành lập liên hợp quốc (tháng 4 đến tháng 6 – 1945) còn muốn
đặc các nước châu Á dưới chế độ uỷ trị quốc tế trực thuộc Mỹ, hoặc tiếp tục thừa
nhận chế độ bảo hộ của thực dân Pháp. Thế nhưng với Tuyên ngôn. Hồ Chí
Minh đã lên án và đặt chế độ thuộc địa ra ngoài tư tưởng của các nước lớn, những
kẻ tự cho mình quyền thống trị các dân tộc khác và duy trì nền “pháp luật thuộc
địa”. Đồng thời Tuyên ngôn – với việc trích dẫn một cách trang trọng Tuyên ngôn
độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
của cách mạng pháp 1971 đã khẳng định nguyện vọng của các dân tộc thuộc địa đấu
tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, cũng như cuộc đấu tranh giai cấp
tất yếu của nhân dân các nước chống chế độ phong kiến giành các quyền tự do,
dân chủ, bình đẳng của con người. Điều lẽ phải và hiển nhiên đó không ai có thể
bác bỏ và chối cải được, nó vượt mọi học thuyết, mọi tranh cãi và lý thuyết
suông.
Hơn
60 năm đã trôi qua kể từ khi Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại
vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, trịnh trọng tuyên bố với thế giới “nước Việt Nam có
quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập”.
từ đó đến nay, những giá trị cốt lõi trong bản Tuyên ngôn là quyền cơ bản
của con người và quyển của các dân tộc vẫn tiếp tục toả sáng trong lòng nhân loại
tiến bộ. Đến nay, nếu so sánh với Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm
1948 và nội dung cơ bản Công ước quốc tế về nhân quyền thế giới năm 1966
có thể khẳng định rằng, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đã thể hiện đầy đủ các
quyền cơ bản và phổ biến của con người, đạt được những thành tựu và cống hiến lớn
trong sự nghiệp phát triển và bảo vệ quyền con người. Đảng ta đang tiếp tục
phát huy tư tưởng nhân quyền của Hồ Chí Minh trong tiến trình đổi mới đất nước
bằng nhiều biện pháp cụ thể, chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mọi người, coi đó là mục tiêu và động lực phát triển đất nước.
(
Nguồn: theo TỪ ĐIỂN HỒ CHÍ MINH sơ giản, Nhà Xuất Bản Trẻ 1990
Tập
sách văn hoá và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà Xuất Bản
Chính Trị Quốc Gia Hà Nội - 2008)
0 Nhận xét